Tin Sâu Pháp Môn Tịnh Độ
Chủ nhật, 24 Tháng 7 2011 16:46 |
Quản trị viên |
In
PDF.
Chỉ mục bài viết
Tin Sâu Pháp Môn Tịnh Độ
Trang 2
Trang 3
Tất cả các trang

Tác Giả: Đại Đức Thích Tâm Hải

Ðề tài mà chúng tôi có duyên được trình bày cùng quý vị hôm nay thuộc một lãnh vực rất phổ thông, song cũng rất quan trọng, bởi vì nó liên hệ đến rất nhiều người theo đạo Phật. Ðó là Pháp môn Tịnh độ, một Pháp môn mà hầu hết các Phật tử đều quen biết. Ðúng vậy, từ khi đạo Phật du nhập vào nước ta đến nay đã trải qua biết bao nhiêu sự thăng trầm nghiệt ngã của lịch sử, đứng trước sự kinh hoàng đầy cay đắng đó Phật giáo Việt Nam vẫn mãi là một cây cổ thụ đứng vững để che mát cho nhân loại mà không hề bị tàn lụi. Dù trong mọi hoàn cảnh nào, Phật giáo Việt Nam luôn luôn sát cánh với dân tộc, hòa nhập với dân tộc như nước với sữa, thật là đúng như mấy câu thơ của thi sĩ Hồ Dzếnh:

“Trang sử Phật,

Ðồng thời là trang sử Việt,

Trải bao độ hưng suy,

Có nguy mà chẳng mất.”

Và đây, Pháp môn Tịnh độ, cũng vậy, như một dòng suối trong lành, mát dịu cứ mãi tuôn chảy vỗ về đến từng trái tim son của người dân Việt Nam mà không hề ngưng nghỉ. Chắc có lẽ Pháp môn Tịnh độ đã trở thành một nguồn sống tinh thần ăn sâu vào tâm thức của mỗi người dân Việt Nam chúng ta.

Thậm chí, từ những em nhỏ cho đến những cụ già vẫn thường nở trên môi bằng câu niệm “Nam mô A Di Ðà Phật.” Không chỉ vậy, bây giờ câu niệm Phật đã trở thành một ngôn ngữ giao tiếp và cũng là món quà dễ mến cho toàn thể chư Tăng và tín đồ Phật tử.

Thật phải nói Pháp môn Tịnh độ là một Pháp môn thích đáng, khế hợp mọi căn cơ, dễ tu, dễ chứng mà chư Phật trong mười phương đã dùng Pháp môn này để cứu vớt hết thảy chúng sinh xa rời nẻo khổ, chứng đắc Niết bàn ngay trong một đời.

Ðức Phật quán thấy chúng sinh đời Mạt pháp đa số là những bậc hạ căn, đầy dẫy phiền não, phước mỏng nghiệp dày. Vì lòng bi mẫn mà Ngài đã thương tưởng đến chúng sinh, với lòng Từ bi vô hạn, Ðức Phật đã giới thiệu một cảnh giới Tịnh độ của Phật A Di Ðà, để cho chúng sinh nương nơi tha lực bản nguyện của Phật A Di Ðà mà được vãng sinh.

Pháp môn Tịnh độ được hình thành trong ba bộ kinh Tịnh độ:

1. Phật thuyết A Di Ðà Kinh

2. Phật thuyết Vô lượng thọ Kinh

3. Phật thuyết Quán Vô lượng thọ Kinh

Bộ kinh Tịnh độ này được hình thành tại Ấn Ðộ do Ðức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni nói ra chứ không phải do một ông Thần ông Thánh nào nói cả. Ðể cho những ai đã theo và đang theo Pháp môn Tịnh độ, tin sâu, nguyện thiết, hành chuyên Pháp môn này thì hãy lắng nghe Ðức Thế Tôn dạy: “Vô lượng Bồ tát ở mười phương thế giới muốn nghe thuyết về Pháp môn Tịnh độ mà không được toại nguyện. Giả sử khắp tam thiên đại thiên thế giới bị nạn hỏa thiêu, nếu ai có được nghe giảng về Pháp môn Tịnh độ mà phải băng qua miền lửa cháy thì cũng cố nên vượt qua để được nghe diệu pháp này.”

Lời Phật đã dạy như vậy, đủ chứng tỏ giá trị siêu việt của Pháp môn Tịnh độ hay Pháp môn niệm Phật cầu vãng sinh Cực lạc quốc cao tột đến mức độ nào.

I. TIỂU SỬ PHẬT A DI ĐÀ

A Di Đà là phiên âm từ chữ Phạn Amitabha, nghĩa là ánh sáng vô lượng (Vô lượng quang), sống lâu vô lượng (Vô lượng thọ). Sở dĩ chữ “A Di Đà” không dịch nghĩa mà chỉ phiên âm, vì theo Huyền Trang Tam Tạng Pháp sư, có năm loại danh từ không dịch nghĩa (ngũ chủng bất phiên):

1) Danh từ bí mật.

2) Danh từ nhiều nghĩa.

3) Danh từ không có ở Trung Quốc.

4) Danh từ đã có dịch từ xưa.

5) Danh từ khiến người tôn kính.

Vì Amitabha là danh từ nhiều nghĩa, bí mật và được người đời tôn kính nên không dịch. Trong kinh Tiểu Bản A Di Đà, Đức Phật Thích Ca dạy: “Này Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao? Phật kia vì sao tên gọi A Di Đà? Xá Lợi Phất! Phật kia có ánh sáng vô lượng chiếu khắp cõi nước trong mười phương không chướng ngại, nên gọi A Di Đà. Lại nữa Xá Lợi Phất! Phật kia cùng nhân dân sống lâu vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp, nên gọi A Di Đà!”

Phật A Di Đà tượng trưng cho Phật tánh chúng sinh, vì tánh ấy vô thỉ đến nay chưa hề sinh diệt, nên đồng nghĩa sống lâu vô lượng. Tánh ấy trùm khắp mười phương, tuyệt nhiên yên lặng, chiếu sáng thời thời, nên đồng nghĩa ánh sáng vô lượng. Tóm lại, về tướng mà nói, Phật A Di Đà là vị giáo chủ của cõi Cực lạc Tây phương, hiện đang thuyết pháp; trên tánh mà bàn, A Di Đà chính là Phật tánh tất cả chúng sinh. Thường sống với Phật tánh chính là Đạo, là trở về với cái vô sanh, bất diệt. Từ vô lượng kiếp Phật A Di Đà thực hành Bồ tát hạnh, trang nghiêm diệu độ.

Rải rác trong các kinh, Đức Phật Thích Ca thường nói đến điều này. Như kinh Pháp Hoa kể, vào thời Như Lai Đại Thông Trí Thắng hóa đạo, lúc ấy có 16 vị vương tử xuất gia, ưa giảng nói kinh Pháp Hoa, về sau đều thành Phật. Vương tử thứ chín hiện là Phật A Di Đà, vương tử thứ 16 chính là Đức Phật Thích Ca.

Kinh Bi Hoa ghi, thuở xưa, có vua Vô Tránh Niệm và đại thần Bảo Hải, đồng đối trước Như Lai Bảo Tạng, phát tâm Vô thượng Bồ đề. Chuyển luân Vô Tránh Niệm phát nguyện: “Khi thành Phật, tôi nguyện ở nơi thế giới An lạc, thanh tịnh, luôn nhiếp thọ chúng sinh trong mười phương thế giới.” Đại thần Bảo Hải nguyện: “Khi thành Phật, tôi nguyện ở vào thế giới năm trược (kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược) để độ chúng sinh thoát khổ não.” Vua Vô Tránh Niệm ngày đó giờ là Phật A Di Đà, đại thần Bảo Hải chính là Phật Thích Ca. Hai vị tuy đồng đại nguyện nhiếp độ chúng sinh, nhưng một vị chỉ ra cõi khổ để chúng sinh nhàm chán, một vị bày mở cõi vui để khuyến dụ chúng sinh về.

Lại nữa, kinh Cổ Âm Vương viết, thời quá khứ, trong nước Diệu Hỷ, có vị quốc vương tên Kiều Thi Ca, ông nội là quốc vương Thanh Thới, cha là Chuyển luân vương Nguyệt Thượng, mẹ Thù Thắng Diệu Nhan, sinh ra ba quí tử: Con cả tên Nguyệt Minh, con thứ tên Kiều Thi Ca và con út là Đế Chúng. Lúc ấy, có Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai ra đời, Kiều Thi Ca bèn bỏ ngôi vua, theo Phật xuất gia, hiệu là Tỳ kheo Pháp Tạng. Một lần, Pháp Tạng tuyên phát bốn mươi tám nguyện hóa độ chúng sinh, thề nếu không thành, quyết không giữ ngôi Chánh giác. Khi ấy, mười nghìn thế giới chấn động mạnh, giữa không trung phát ra lời ngợi khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Ngài nhất định sẽ thành Phật!”

Trong kinh Vô Lượng Thọ, thuở Phật Thế Tự Tại Vương còn trụ thế, có vị quốc vương nghe Phật nói pháp, lòng thường vui vẻ, phát tâm Bồ đề, thôi làm vua, xuất gia thành Sa môn, hiệu Pháp Tạng. Ngài thông kinh điển, tài đức vượt hơn người. Phật Thế Tự Tại Vương, theo bản nguyện của Ngài, dạy cho cách trang nghiêm diệu độ. Về sau, Ngài thành Phật, hiệu A Di Đà, hiện là giáo chủ cõi Cực lạc Tây phương.

II. PHẬT NGUYỆN NHÂN DUYÊN

1) Lòng Đại Từ

Tỳ kheo Pháp Tạng khi rời cung vua, phát tâm Vô thượng, tự nghĩ rằng: Chúng sinh trong mười phương, muôn đời chịu khổ, không bao giờ dừng. Ngài khởi Đại bi, muốn lập một Tịnh độ, tiếp dẫn chúng sinh về đó tiến tu. Bèn đến bạch với Thế Tự Tại Vương Như Lai rằng: “Nay con phát tâm Vô thượng, muốn cứu khổ muôn loài, xin hãy vì con chỉ bày cách thực hành, trang nghiêm diệu độ, nhanh chóng viên mãn Bồ đề, nhổ bật gốc rễ đau khổ cho chúng sinh.”

Phật Thế Tự Tại Vương biết Pháp Tạng có lòng Đại bi vô lượng, nên nhân đó dạy: “Như có biển lớn, một người muốn tìm của báu, bèn dùng đấu để lường, nhiều kiếp đi qua, biển có thể cạn. Nay ngươi có lòng đại nguyện muốn cứu khổ chúng sinh, ta sẽ vì ngươi, tuyên bày giảng nói!” Xong, bèn dùng thần lực, hiện ra 200 ức quốc độ của chư Phật. Pháp Tạng thấy vậy, mừng rỡ vô cùng.

2) Quyết tâm tu hành

Sau khi nghe Phật Thế Tự Tại Vương giảng bày về các quốc độ thanh tịnh, Pháp Tạng nghi nhớ, tâm vô cùng tịch tịnh, tinh tấn, nghiêm mật tu hành qua năm kiếp dài. Ngài chọn những điểm thù thắng nhất trong các cõi Phật thù thắng, xây dựng thế giới Tịnh độ. Bạch điều này lên Phật Thế Tự Tại Vương, Đức Phật hoan hỷ thọ ký và nói cùng đại chúng: “Trong tương lai không lâu, Bồ tát Pháp Tạng này sẽ thành tựu đại nguyện!”

3) Cách thức trang nghiêm Tịnh độ

Trang nghiêm nghĩa là trang hoàng, làm thành, xây dựng. Cõi Tịnh độ An lạc là do Ngài Pháp Tạng quyết tâm tùy theo nguyện mà thực hiện thành tựu. Khi mới phát tâm, cõi này vẫn có ba đường dữ, Ngài hiện thân tu Bồ tát hạnh, độ hết thảy chúng sinh dứt bặt tham sân si, tiến tu dự vào hàng Bất thối.

Trên nền tảng 48 đại nguyện, Tỳ kheo Pháp Tạng xây dựng quốc độ của mình bằng ba phương diện nhiếp pháp hàng đầu: Nhiếp Pháp thân nguyện, nhiếp Tịnh độ nguyện và nhiếp Chúng sinh nguyện.

a) Nhiếp Pháp thân nguyện: Là nguyện xây dựng Phật thân. Bồ tát chọn quả Phật thân để đem công đức trang nghiêm, thệ nguyện trang nghiêm thành tựu pháp thân chư Phật, ánh sáng vô lượng, thọ mạng vô cùng.

b) Nhiếp Tịnh độ nguyện: Là nguyện xây dựng cõi Phật. Sau khi thành Phật, Bồ tát đem công đức trang nghiêm quốc độ, tất cả đều bằng thất bảo: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não...

c) Nhiếp Chúng sinh nguyện: Là tiếp độ và giáo hóa chúng sinh, gồm cả phàm phu và Thánh trí.

III. GIÃ TỪ QUÁN TRỌ NHỚ VỀ CỐ HƯƠNG

Quán trọ ví cho cõi Ta bà đau khổ, ngắn ngủi, không bền chắc. Cố hương ví cho cõi Cực lạc thuần vui, bền lâu, chắc thật.

Nói về sự: Chúng ta phải thật sự rời bỏ Ta bà để luôn nhớ nghĩ về cõi Cực lạc của Phật A Di Đà.

Nói về lý: Chúng ta phải rũ bỏ tất cả những phiền muộn, lo âu, trăn trở, giả tạm trong tâm thức, để thảnh thơi trở về với chân như Phật tánh hằng thanh tịnh của chúng ta.

Chúng ta thường nghĩ: Cuộc đời này luôn đầy hoa bướm. Chúng ta say sưa đắm chìm trong tình yêu, danh vọng, tiền bạc, cứ ngỡ cuộc đời là những bài thơ, tiếp nối với những ngày vui bất tận, hoa sẽ không tàn, trăng sẽ không khuyết, cuộc vui dài kéo đến thiên thu. Nhưng có ngờ đâu, thân người như bóng chớp chiều hôm, mới trẻ rồi già, mới sống rồi chết, trong cuộc vui hội ngộ đã ươm mầm chia ly. Đời người thật vô thường, huyễn mộng như hoa sớm nở tối tàn, vui ít khổ nhiều, sống chết nối liền không ai tránh khỏi. Ai cũng biết đời ít người trăm tuổi, tuổi xuân thấy đó rồi chợt mất, buồn vô cùng và khổ cũng vô cùng.

Vì sao vậy? Vì quán trọ chỉ cho sự tạm bợ, ngắn ngủi, ví như những quán trọ ở ven đường, chỉ dùng cho khách bộ hành dừng chân nghỉ mát, sau đó từ giã ra đi, chứ không ở mãi được. Cũng vậy, Ta bà chẳng khác nào quán trọ, nhân loại sống trong cõi này đều giả tạm, vô thường, không thật. Tại sao không thật? Vì suốt cả cuộc đời bị sinh, lão, bệnh, tử, tiền tài, danh vọng chi phối, bức bách thật là khổ não. Tất cả đời sống vật chất cho dù làm vua, làm quan, giàu sang đến cỡ nào đi nữa nhưng khi ra đi không mang được gì cả, cho nên mới gọi là không thật. Chúng ta là người hiểu đạo, phải sớm Giác ngộ ngay chỗ này, sống có đạo đức để làm lợi ích cho mọi người. Có như vậy, mới không uổng phí đời người.

Ta bà thật là đau khổ, tại sao chúng ta không sớm Giác ngộ để một lòng nhớ về cố hương Cực lạc? Cố hương là nơi chúng ta chôn rau cắt rốn, là ngôi nhà vững chắc cho chúng ta ngơi nghỉ sau những ngày tháng vất vả với cuộc đời.

Ngày ấy, Đức Phật Thích Ca, vì hiểu cuộc đời ngắn ngủi, kiếp phù sinh tạm bợ, mong manh nên đã quay mặt với vinh hoa, độc hành vào núi thẳm, rừng sâu tìm chân lý. Bao ngày tháng miệt mài tu tập, cuối cùng Giác ngộ, đem đạo mầu soi tỏ cuộc đời. Giáo lý Ngài dạy rất nhiều, trong đó, vô thường (không thường còn, luôn đổi thay biến dạng) là một trong những giáo lý căn bản.

Phàm mọi pháp vô thường, theo sau là khổ. Ấy vậy, chúng sinh không tỉnh, lấy khổ làm vui, cam lòng nhận chịu, nên gọi là Ta bà, Ta bà là cõi uế trược đầy dẫy khổ đau. Trái lại, cõi Cực lạc là cõi thuần vui, nơi An lạc thanh tịnh cho tất cả chúng sinh. Vì thế, người Việt Nam ta, khi có người thân tạ thế, tất cả đều mong ước nguyện cầu vong hồn sớm tiêu diêu miền Cực lạc. Danh từ Cực lạc đối với danh tộc ta nó thân thiết đậm đà như một ngôi nhà ấm cúng, là nơi yên nghỉ an toàn, là quê hương đầy thắng cảnh cho những khách lãng tử viễn du mòn gót trên vạn nẻo đường đời. Để hết khổ được vui, chúng ta hãy hiểu rõ hai cõi Ta bà và Cực lạc.

Ta bà là gì? Ta bà là phiên âm từ chữ Saha của Phạn ngữ, có nghĩa là ráng chịu đựng, vì chúng sinh ở trong cõi này chịu các phiền não, tham sân si bức bách, làm các điều ác, xoay quanh trong ba nẻo sáu đường, lại cứ cam lòng nhẫn chịu không mong ngày ra khỏi. Ta bà không phải chỉ có một thế giới ta đang ở, mà nó gồm cả ba nghìn đại thiên thế giới, trong phạm vi hóa độ của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Cực lạc là gì? Cực là rất, Lạc là vui. Như vậy, Cực lạc là cõi thuần vui. Trong Kỳ Viên Hội, Đức Phật gọi Ngài Xá Lợi Phất dạy rằng: “Cõi đó vì sao gọi là Cực lạc? Vì chúng sinh trong cõi đó không có các điều khổ, chỉ hưởng thuần những sự vui, nên gọi là Cực lạc.”

Vậy, để giã từ quán trọ (Ta bà) một cách dứt khoát, thiết tha nhớ về cố hương (Cực lạc) thì chúng ta phải so sánh sự hơn kém giữa chánh báo và y báo của hai cõi.

Nam Mô A Di Đà Phật



LAST_UPDATED2

T.T. Thích Chúc Thiện Giảng Pháp

Bảng quảng cáo

Văn Khuyến Phát Bồ Đề Tâm

Bảng quảng cáo

Đặc San - Kỷ Niệm 10 Năm Thành Lập ĐTLH

Bảng quảng cáo

Hành Hương Tâm Linh Việt Nam

Bảng quảng cáo

Hành Hương Tâm Linh Nhật Bản

Bảng quảng cáo

Hành Hương Tâm Linh Ấn Độ

Bảng quảng cáo

Hành Hương Tâm Linh Trung Quốc

Bảng quảng cáo

Tìm Kiếm

Lượng Truy Cập

Ai đang online?

Hiện có 1371 khách Trực tuyến

Đăng Nhập



Mọi chi tiết xin liên lạc: daotranglienhoa@mail.com